Kiêng ăn gì khi yếu sinh lý?

 

Thức ăn nên kiêng khi yếu sinh lý

 
Theo y học cổ truyền, để phòng chống các chứng bệnh được gọi là “yếu sinh lý” như liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục... ngoài việc dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp và tập luyện khí công dưỡng sinh còn phải chú ý lựa chọn chế độ ăn uống phù hợp. Với quan điểm “dược thực đồng nguyên”, việc sử dụng đồ ăn thức uống nào đó đều phải tuân thủ nguyên tắc “biện chứng luận trị”, nghĩa là phải căn cứ vào đặc điểm thể chất và tình trạng bệnh tật cụ thể của mỗi người mà trọng dụng hoặc kiêng kỵ các loại thực phẩm cho thích đáng. Bài viết này xin được tư vấn những đồ ăn thức uống mà người bị yếu sinh lý cần hạn chế sử dụng hoặc kiêng kỵ hoàn toàn.
 
Tham khảo các sản phẩm thuốc trị yếu sinh lý

Với thể thận dương hư

Chứng trạng: Sợ lạnh, dễ bị cảm, dễ vã mồ hôi, tay chân lạnh, da mặt trắng nhợt, lưng đau gối mỏi, tiểu tiện trong, hay đi tiểu về đêm hoặc đi lâu không hết bãi, có thể có phù thũng, liệt dương, di hoạt tinh, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế...

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính lạnh như thịt trâu, cua, ốc, trai, hến, ngao, dưa hấu, dưa chuột, bí đao, mướp, khổ qua, rau đay, mùng tơi, rau cần, rau rút, măng, rong biển, đậu phụ, đậu xanh, giá đỗ, cà rốt, mã thầy, củ đậu, nấm kim châm, táo tây, lê, chuối tiêu, trà hoa cúc, trà bát bảo...

Người bị yếu sinh lý nên kiêng ăn gì? 1
 Người yếu sinh lý thể thận dương hư nên kiêng ăn cua.

Với thể thận âm hư

 Chứng trạng: Người gầy, có cảm giác nóng trong, ngực bụng buồn bực không yên, lòng bàn tay và bàn chân nóng, đổ mồ hôi trộm, ngủ kém hay mê, miệng khô họng khát, lưng đau gối mỏi, thích uống nước mát, di tinh, liệt dương, chất lưỡi đỏ khô, ít hoặc không có rêu, mạch tế sác...

 Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính cay nóng như thịt dê, thịt chó, ớt, hạt tiêu, quế, hồi, sa tế, sa nhân, rau hẹ, hành tây, tỏi, lạc rang, nhãn, vải, nhục dung, tỏa dương, nhân sâm, nhung hươu, rượu, thuốc lá...

Với thể tâm tỳ lưỡng hư

Chứng trạng: Sắc mặt vàng úa, mệt mỏi, có cảm giác khó thở, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp trống ngực, hay quên, ngủ kém hay mê mộng, chán ăn, đầy bụng chậm tiêu, đại tiện lỏng nát, có thể có hiện tượng xuất huyết dưới da, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược...

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như củ cải, hành tây, kinh giới, sa nhân, sơn tra, quế, hồi, gừng tươi, hạt tiêu, mã thầy, trà đặc, thuốc lá...

Với thể can khí uất kết

Chứng trạng: Tinh thần luôn bị ức chế, ngực bụng đầy tức hoặc đau nhói, tức nặng hạ sườn phải, hay thở dài, dễ cáu gắt, liệt dương, di mộng tinh, đại tiện táo lỏng thất thường, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền...

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như thịt mỡ, cơm nếp, mật ong, đại táo, long nhãn, nhân sâm, hoàng kỳ, hoàng tinh, trà đặc, bia rượu, cà phê...

Với thể can kinh thấp nhiệt

 Chứng trạng: Vàng da, vàng mắt, ngực sườn đau tức đầy trướng khó chịu, ăn kém, miệng đắng, hoa mắt chóng mặt, tai ù tai điếc, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện như đi kiết, rêu lưỡi dày nhờn, mạch hoạt sác...

 Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như thịt vịt, thịt đầu lợn, thịt mỡ, thịt chó, thịt dê, đồ uống quá ngọt, long nhãn, long vải, ớt, hạt tiêu, hồi hương, đinh hương, thuốc lá, rượu, giấm quá chua, kim anh tử, khiếm thực, hạt sen...

Với thể tâm thận bất giao

Chứng trạng: Tinh thần bồn chồn không yên, mất ngủ, hay mê mộng, di mộng hoạt tinh, lưng đau gối mỏi, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, vã mồ hôi trộm, tai ù tai điếc, hay hồi hộp trống ngực, miệng khô họng khát, đi tiểu đêm nhiều lần, môi đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu, mạch tế sác...

 Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính cay nóng như ớt, hạt tiêu, giấm quá chua, đại hồi, nhục quế, đinh hương, hành tây, thịt chim sẻ, thịt dê, thịt chó, trà đặc, rượu trắng, thuốc lá...

Ngoài ra, theo kinh nghiệm dân gian, người suy yếu sinh lý không nên ăn nhiều rau răm, đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương.
 
Theo suckhoedoisong.vn

Điều trị liệt dương theo sách của Hải Thượng Lãn Ông

Điều trị liệt dương theo sách của Hải Thượng Lãn Ông

Mặc dù y học hiện đại có nhiều bước phát triển vượt bậc song việc vận dụng kiến thức Đông y trong điều trị bệnh nam khoa vẫn được đánh giá là cần thiết, mang lại hiệu quả đáng kể.

Trong cả cuộc đời hành nghề y của mình, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiên cứu và ghi chép lại nhiều loại bệnh. Trong đó, mục liệt dương được ông viết với nhiều quan điểm độc đáo.

Chủ yếu là bồi bổ đường tiêu hóa

Sau nhiều bôn ba về con đường hoạn lộ, năm 30 tuổi ông mới bước vào nghề y và 40 năm sau ông đã để lại cho đời một tác phẩm vĩ đại "Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh" gồm có 66 cuốn chia thành 28 tập. Bộ sách được sắp xếp thành 2 quyển lớn gồm nhiều phần nhỏ là cuốn sách ghép lại của Hải Thượng, trong đó, tại phần Y trung quan kiện, ông đã viết về vấn đề liệt dương như sau: "Dương sự khỏe hay yếu là do chấn hỏa thịnh hay suy, vì hỏa tác dụng nhưng căn bản là do tinh sự".

Những kinh nghiệm Đông y của Hải Thượng Lãn Ông vẫn được vận dụng trong điều trị nhiều bệnh nam khoa hiện nay.

Về phương diện trị liệu, quan niệm của Hải Thượng Lãn Ông là: người ta dùng chất cay nóng cường dương như vậy là lầm to. Chỉ nên bổ đều năm tạng, khiến tinh ba của năm tạng chuyển về thận, vì thận là nơi tăng chứa tinh, chỉ dùng Bát vị hoàn gia, uống nhiều vị thuốc bổ tinh huyết uống để bồi bổ thận.

"Nếu âm hư thì bội Thục địa, dương hư thì bội Quế, Phụ, vị hư gia Sơn dược, vị hàn bỏ Mẫu đơn, khí hư thì thang tống bằng nước sâm, tỳ hư thì thang tống bằng nước cơm, mùa đông thang tống bằng rượu, mùa hè thang tống bằng thang Sinh mạch, khí hư hạ hãm thì thang tống với thang Bổ trung, tâm can kém thang tống với thang Quy tỳ. Uống lâu, uống liên tục thời tinh huyết của các tạng ngày càng thêm nhiều và chuyển đưa về thận", trích đúc kết của Hải Thượng Lãn Ông. Cũng từ đó, ông đã đưa ra phương pháp điều trị bằng cách bổ đều 5 tạng, khiến tinh huyết của 5 tạng ngày một nhiều và chuyển về thận, từ đó không cần làm cho cường dương mà dương vẫn tự cường

Ông cũng đúc kết và để lại kinh nghiệm quý báu về vấn đề điều trị liệt dương chủ yếu là bồi bổ đường tiêu hóa: "Nhưng còn có phép bổ vị là kinh nghiệm riêng của tôi, luận rằng vị khỏe thì ăn uống tăng tiến, tinh ba hằng ngày sản sinh không ngớt mới có thể chuyển vận về thận. Sách nói vị mạnh thì thận khỏe và tinh khí dồi dào, vị hư thì tinh bị thương tổn mà dương sự cũng bị suy kém chính là như thế".

Tham khảo các sản phẩm chữa liệt dương

Liệt dương phải điều trị tổng thể

Trải qua nhiều thế kỷ, những học thuyết của Hải Thượng Lãn Ông để lại vẫn còn giá trị và có tính ứng dụng cao. Cơ thể nam giới không thể xem như bình nước, các thuốc cường dương làm tinh khí xuất ra hết, chẳng bao lâu, cơ thể sẽ khô kiệt, lâu dài mà có hại cho sức khỏe, giảm tuổi thọ. Từ lý luận đó, việc điều trị những trục trặc sinh lý nam giới phải được xem xét trong một tổng thể chức năng của các cơ quan trong cơ thể.

Việc bồi bổ nâng đỡ sức khỏe là việc không thể thiếu trong điều trị bệnh lý nam khoa nhưng cũng cần có giải pháp làm dương sự mạnh lên và giải quyết được những trục trặc của nam giới. Sản phẩm đơn lẻ thường không đạt được tác dụng này nên hiện nay, sử dụng bộ sản phẩm là hướng cần khai thác để đạt hiệu quả cao trong điều trị một số trường hợp rối loạn cương dương, hoặc xuất tinh sớm.

Bác sĩ tốt nhất là chính mình

Khi có những biểu hiện của rối loạn cương dương, nam giới nên lưu tâm một số nguyên nhân để tự đánh giá và cải thiện tình trạng:

- Tổn thương thực thể trên mạch máu ở dương vật hay tổn thương thần kinh thực vật, tủy sống, khiếm khuyết trong cấu trúc dương vật… thì việc điều trị phải dựa vào khoa giải phẫu để phục hồi lại các chức năng bị mất.

- Do bệnh tật như bị bệnh tim, cao huyết áp, tiểu đường, cường tuyến giáp, suy gan, suy thận, phì đại tuyến tiền liệt …. thì vấn đề là điều trị các bệnh gây ra tình trạng suy yếu sinh lý là chính.

- Do lão suy, vì dùng dược phẩm, rượu, thuốc lá dẫn tới tình trạng suy nhược mệt mỏi cơ thể kéo dài thì cần phải thay thế, hạn chế hay dứt bỏ mới mong tái lập lại tình trạng cường dương.

- Do thể trạng, tâm lý - nguyên nhân của mỗi một cá nhân. Việc đánh giá lượng định của thầy thuốc đối với những người khác nhau không giống nhau nên không thể đưa ra một phác đồ chung trong việc điều trị. Đôi khi, chúng ta chỉ cần giải tỏa một vướng mắc trong đời sống vợ chồng, hoặc đổi nếp sống, môi trường là có thể cải thiện tình hình, song nhiều trường hợp, bạn lại cần đến sự giúp đỡ, tư vấn các thầy thuốc.

Theo VNExpress

Nhận biết bệnh tật qua "cỏ" vùng kín

Đừng chủ quan khi “cỏ” tại vùng kín quá rậm rạp hoặc thưa thớt hơn mức bình thường. Đó có thể là dấu hiệu của những chứng bệnh liên quan tới sức khỏe sinh sản.

Lông mu chính là dấu hiệu cho thấy sự trưởng thành về giới tính của con người. Bước vào giai đoạn dậy thì, cả nam lẫn nữ đều xuất hiện những “cụm cỏ” này. Thậm chí, nhiều cô nàng còn tỏ ra phiền muộn vì điều ấy. Số lượng “rừng rậm” tại vùng kín nhiều ít khác nhau, tùy thuộc vào cơ thể từng người. Nhưng quá nhiều hoặc quá ít cũng là dấu hiệu cho thấy, bạn đang mắc phải một vài chứng bệnh. Sau đây là một số cảnh báo của các chuyên gia Trung Quốc về vấn đề này.

Quá thưa thớt có phải là bệnh?

Thông thường, lông sẽ không mọc nhiều trên cơ thể nữ giới. Đặc điểm này xuất phát từ yếu tố sinh lý. Chỉ khi lông mu có số lượng quá ít, đó mới có thể là dấu hiệu của bệnh tật.

Ít lông mu có thể là biểu hiện của hội chứng Turner mang tính di truyền do rối loạn nhiễm sắc thể giới tính. Những người mắc bệnh này có chức năng tuyến sinh dục không hoàn thiện, cơ thể thấp bé, ngực và bộ phận sinh dục ngoài không phát triển, ít lông, thường bị vô kinh, thậm chí không có khả năng sinh đẻ.

Những phụ nữ có chức năng tuyến giáp suy giảm, cũng thường không có lông nách. Lông mu tại vùng kín cũng thưa thớt. Nhu cầu tình dục của họ giảm sút rõ rệt. Có người bị băng huyết sau khi sinh, thậm chí thiếu máu nuôi tuyến yên, chức năng tuyến yên không hoàn thiện, hoặc có hiện tượng vô kinh và vô sinh. Biểu hiện rõ ràng của những bệnh nhân mắc chứng này là thân thể suy nhược, gầy yếu, dục vọng kém, hay rụng tóc và lông mu.

Quá rậm rạp cũng không tốt

Một số phụ nữ mọc quá nhiều lông trên cơ thể, đó cũng là dấu hiệu của bệnh tật. Những người bị u tuyến yên thường rất rậm rạp vùng kín. Biểu hiện của người bệnh là mặt tròn vạnh, bụng to như trống, da thô dày, hay bị vô kinh và cao huyết áp.

Những người mắc tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh và có khối u thường bài tiết quá nhiều androgen trong cơ thể, khiến lông mu trở nên rậm rạp và âm hạch phì đại. Các bệnh nhân bị hội chứng đa nang buồng trứng cũng có hiện tượng này. Biểu hiện chính của chứng đa nang buồng trứng là ban đầu lông mọc không quá nhiều, bị bế kinh hoặc kinh nguyệt thưa, béo phì, vô sinh. Về sau, lông mu và lông tại các bộ phận khác trên cơ thể ngày càng dày rậm. Ngoài ra, không thể loại trừ yếu tố rậm lông do di truyền, do dùng thuốc… Bất kỳ hiện tượng nào cũng đều nên tới các cơ sở y tế uy tín kiểm tra để chẩn đoán chính xác bệnh tình.

Theo lý giải của các chuyên gia Trung Quốc, chỉ cần nội tiết tốt, số lượng nhiều ít của lông mu sẽ không ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe. Đương nhiên, không thể bỏ qua nguy cơ bệnh tật ở một số ít người. Cần căn cứ vào đặc điểm thể chất và chức năng sinh lý của cơ thể để chẩn đoán chính xác. Giai đoạn dậy thì là thời điểm quan trọng nhất của toàn bộ quá trình phát triển ở con người. Trong giai đoạn này, cơ thể có nhiều thay đổi to lớn. Vì vậy, nếu gặp bất kỳ trở ngại nào, các cô gái nên chia sẻ với người lớn hoặc tìm tới sự tư vấn của bác sĩ, tránh trường hợp bệnh tình kéo dài và trở nên trầm trọng.

Theo- Afamily.vn

Trị rối loạn kinh nguyệt bằng quả đào

Quả đào còn gọi là quả sơn đào, mao đào, bạch đào... Quả đào có vị ngọt, hơi chua, tính ôn có công hiệu đối với việc tiết nước bọt, nhuận tràng, hoạt huyết, ích khí...

Thích hợp với các chứng miệng khô, ít nước bọt, bụng nóng, đại tiểu tiện bí, ứ huyết, người già suy nhược, đầu váng, mệt mỏi. Quả đào có tác dụng: nhuận tràng, hoạt huyết, hạ huyết áp, chữa chứng khó thở, ho ra đờm, tiêu ứ. Chủ yếu dùng điều trị chứng táo bón, kinh nguyệt không đều, ho, khô mồm, khô lưỡi... Cách dùng: Ăn tươi hoặc chế biến thành đào khô, ngâm với mật để dùng.
 
Chữa kinh nguyệt không đều: Ðào tươi nhúng vào nước sôi, sau đó bóc vỏ, bỏ hạt, xay nhuyễn, thêm một chút mật (đường đỏ), cho thêm nước sôi vào ăn.
 
Chữa đại tiện, táo bón, khô miệng, khô lưỡi: Ðào tươi rửa sạch, ăn sống, hoặc dùng đào khô sắc nước uống.
 
Trị chứng ra mồ hôi trộm: Ðào chín tươi một quả. Rửa sạch, bỏ hạt, xay nhuyễn, thêm 50g gạo tẻ, nấu thành cháo hoặc thành cơm, ăn với đường kính. Mỗi ngày dùng vào buổi sáng và buổi tối.
 
Chữa phù thũng: Ðào tươi ăn mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 1-2 quả.
 
Ngoài công dụng chữa bệnh quả đào còn có tác dụng làm đẹp da mặt: Lấy hai quả đào tươi bỏ vỏ và hạt, giã nát, vắt lấy nước, trộn với một ít nước cơm xoa lên mặt mỗi ngày một lần.

Theo-Sức khỏe & Đời sống

Thận liên quan mật thiết đến khả năng tình dục

Khi hệ tiêt niệu bị bệnh, đặc biệt là thận, những chất gây độc hại không được thải loại, huyết áp tăng cao, cơ thể sẽ mệt mỏi, thể chất và tinh thần bị ảnh hưởng, cảm hứng tình dục cũng vì thế mà giảm đi.
 
Cơ thể bao gồm nhiều cơ quan, hệ thống tất cả là một khối thống nhất, tất cả đều có mối quan hệ rất chặt chẽ, ảnh hưởng trực tiếp qua lại lẫn nhau. Thận - là cơ quan thuộc hệ tiết niệu nằm ở hố thắt lưng, cạnh cột sống. Các chất độc hại như Urea, Creatinine, Acid Uric. Bilirubin … sinh ra trong quá trình chuyển hóa  theo máu đến thận được thanh lọc, đào thải cùng với nước theo niệu quản xuống bàng quang, rồi theo niệu đạo ra ngoài cơ thể.
 

Đau mỏi vùng thận
 
Cột sống thắt lưng có cấu tạo cong về phía trước, là nơi chịu nhiều trọng lực của cơ thể, phía sau là hai khối cơ lưng to, sức co kéo rất lớn. Đau vùng lưng, thắt lưng là triệu chứng của rất nhiều bệnh thuộc đốt sống, dây chằng đĩa đệm, dây thần kinh và một số cơ quan lân cận như thận, tiết niệu. Hành vi quan hệ tình dục bao gồm sự tăng cường hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp, thần kinh, nội tiết, và hệ vận động. Tuy nhiên các cơ quan hệ thống đều có sự hồi phục nhanh chóng sau thời gian thư giãn.
 
Đối với hệ thống cơ, xương, khớp  thường được hồi phục chậm hơn và gây nên hiện tượng đau mỏi vùng  lưng, thắt lưng. Đối với những trường hợp có quan hệ tình dục nhiều hơn bình thường và không an toàn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hệ tiết niệu – một hệ thống có quan hệ gần gũi hơn về giải phẫu, dễ gây viêm nhiễm thận, tiết niệu, chính vì lẽ đó mà dân gian có quan niệm “đa dâm bại thận"
 
Những ảnh hưởng của hệ tiết niệu đến hoạt động tình dục
 
Hoạt động tình dục chịu sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội riêng của từng cá thể. Khi hệ tiết niệu bị bệnh, đặc biệt là thận, những chất gây độc với cơ thể không hoặc ít được đào thải, nồng độ các chất Urê, Creatinine, Bilirubin …. tăng cao trong máu, huyết áp tăng cao, cơ thể sẽ mệt mỏi, đau đầu trong khi đó lại xuất hiện nhiều chất lẽ ra không được xuất hiện trong thành phần nước tiểu như  tế bào máu, Protein, đường …
 
Tùy theo mức độ nặng hay nhẹ, bệnh thận, tiết niệu có biểu hiện đau âm ỉ vùng thắt lưng, tiểu tiện buốt dắt, đi nhiều lần về đêm, nước tiểu đỏ, vàng hay tiểu đục, ứ nước dưới da gây phù. Bệnh thận, tiết niệu có thể là cấp tính, nếu không được phát hiện điều trị đúng và tích cực, bệnh sẽ trở thành mãn tính và có thể dẫn đến suy thận. Hệ tiết niệu bị tổn thương thực thể, sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng, tinh thần không thể thoải mái, cảm hứng tình dục cũng vì thế mà giảm đi rõ rệt, người xưa có câu “nữ sợ thương tâm, nam sợ thương thận”. Mặt khác những thuốc nội tiết dùng trong điều trị bệnh tiểu đường, thuốc lợi tiểu, hạ huyết áp … đều có ảnh hưởng không tốt đến quan hệ tình dục.
 
Cần kiêng quan hệ tinh dục trong những trường hợp có dấu hiệu phù nặng ở ngực, bụng và hai chi dưới; có triệu chứng cao huyết áp nặng, đau đầu chóng mặt; nước tiểu chứa nhiều Protein; giai đoạn cấp tính của viêm thận; đợt cấp tính của viêm bể thận mãn, ngoài ra trong những giai đoạn bệnh ổn định, cần hạn chế số lần quan hệ tình dục.
 
Thận, tiết niệu cũng như các hệ thống khác trong cơ thể đều có ảnh hưởng đến hoạt động tình dục. Tuy nhiên ở người có sắc dục lớn hơn bình thường cũng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên bệnh thận, nếu đó là những lần quan hệ tình dục đảm bảo vệ sinh và an toàn. Ngược lại những người mắc bệnh suy giảm chức năng tình dục không nhất thiết phải có kèm theo bệnh “thận hư” hay “bại thận”. Dùng thuốc bổ thận, không làm cho người ta “cường dương”, quan niệm “ăn gì bổ nấy” cũng không được khoa học công nhận.

Theo- Sức khỏe & Đời sống

Thuốc từ ve sầu chữa trẻ khóc đêm

Xác ve sầu thường được thu nhặt vào mùa hè. Đem về rửa sạch, phơi khô. Đông y gọi thuốc từ xác ve sầu là thuyền thoái hay thuyền xác. Vị thuốc từ ve sầu chỉ sử dụng cho người có thể trạng nhiệt, bốc hỏa từng cơn, nóng tính, cáu gắt, đau đầu mắt đỏ, đau tức mạn sườn hoặc trầm tư, buồn rầu, ăn ngủ thất thường.

Vị thuốc từ ve sầu (thuyền thoái) còn chữa bệnh sốt cao co giật, ho cảm, viêm tai giữa, lở ngứa, mắt có màng mộng, giảm thị lực và chữa ban chẩn, phong chẩn, khóc đêm ở trẻ em.

Chữa chứng viêm phế quản, ho mất tiếng: thuyền thoái 3g, cát cánh 5g, ngưu bàng tử 10g, cam thảo 3g, đổ 500ml sắc còn 300ml chia uống trong ngày.

Chữa phong chẩn ở trẻ em: khi trẻ sốt cao, ban đầu là nóng sau sợ rét, hắt hơi, sổ mũi, mặt đỏ, buồn nôn, sốt độ một ngày là ban chẩn mọc, mọc thưa hơn sởi và bệnh này không mọc ở lòng bàn tay, chân. Khi bay đi không để lại sẹo. Dùng 8g thuyền thoái, 8g kim ngân hoa, 8g bồ công anh, 8g xích thược, 6g bạc hà, 2g kinh giới sắc với 500ml còn 300ml, chia uống trong ngày.

Chữa bệnh sởi: dùng 6g thuyền thoái, 12g cát căn, 8g liên kiều, 6g xích thược, 4g bối mẫu, 6g kinh giới, 2g cam thảo sắc với 500ml nước còn 300ml chia uống cả ngày.

Chữa chứng khóc đêm ở trẻ: trẻ khóc đêm hay còn gọi là khóc dạ đề thì dùng: 7 đến 9 cái xác ve sầu, ngắt bỏ đầu, chân cùng với 2 ngọn rau kinh giới cho vào chén con chưng cách thủy hoặc hấp cơm lấy nước cho trẻ uống.
Hoặc xác ve sầu 1-2 cái, ngắt đuôi, chân; lá bạc hà 1-2g, nghiền nát hai thứ trên cho vào chén con hấp vào nồi cơm lấy nước nhỏ vào miệng trẻ.


Theo: BS Thành Đức / TPO

Củ súng chữa di tinh, tóc bạc sớm

Các chứng tóc bạc sớm, cảm nắng, di tinh, ra mồ hôi trộm, suy nhược cơ thể... có thể cải thiện một phần nhờ củ súng. Cây hoa súng mọc ở đầm lầy, ao hồ trên khắp đất nước ta, còn có tên là cây thụy liên, cây từ bích hoa… Đông y thường dùng lá, hoa, quả, thân, rễ cây hoa súng để làm thuốc thanh nhiệt, cầm máu, chống co giật, say nắng, mất nhiều mồ hôi, suy nhược cơ thể, di tinh, khí hư bạch đới, hen suyễn, thận hư.

Trị chứng cảm nắng: Lấy củ súng rửa sạch, nấu chín cho thêm đường vào ăn rất tốt.
Trị chứng di tinh, ra mồ hôi trộm, suy nhược cơ thể, kém ăn, mệt mỏi: Lấy 400 gr củ súng nấu chín, bóc bỏ vỏ, 800 gr củ mài nấu chín, bóc bỏ vỏ. Đem hai vị trên phơi khô, tán bột. Ngày dùng 10 gr nấu thành cháo, ăn lúc đói bụng.
Trị tóc bạc sớm ở tuổi thanh niên: 200 gr củ súng, 500 gr cỏ nhọ nồi. Củ súng sao vàng, cỏ nhọ nồi phơi khô nơi bong râm tán bột trộn đều. Uống với nước cơm ngày 2 lần lúc đói.

Trị chứng di tinh ở nam giới, khí hư bạch đới ở nữ, trẻ em co giật, bất an, người lớn đau lưng, mỏi gối, đi tiểu nhiều, tiểu nhiều không tự chủ: Lấy 30 - 40 gr củ sung tươi hoặc 10 - 20 gr củ súng khô (tán bột) nấu ăn hoặc uống bột đều rất tốt.
Trị chứng hen suyễn, bồi bổ sức khỏe: Lấy củ súng và hạt cải củ lượng bằng nhau, đem đồ chín, phơi khô, tẩm nước gừng, tán nhỏ, luyện với mật ong, thành viên như hạt ngô đồng. Ngày uống 50 viên với nước sôi để nguội (dùng được cho cả trẻ em).

Trị chứng đau mỏi ngang thắt lưng, thận hư, tỳ yếu: Lấy 20 gr củ sung, 12 gr ngưu đất, 12 gr cẩu tích, 12 gr tỳ giải (tẩm rượu sao), 12 gr ba kích, 12 gr hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần). Sắc kỹ uống ngày một thang.


Theo BS Nguyễn Thị Nhân - Báo Đất Việt

Hạt hẹ - Vị thuốc quý cho nam giới

Hạt hẹ - Vị thuốc quý cho nam giớiHẹ còn gọi là cửu thái, tên khoa học: Allium tuberosum Rottl. et Spreng. Hẹ được dùng làm gia vị và làm thuốc chữa bệnh.
Bộ phận dùng: Cây hẹ (cửu thái); hạt hẹ (cửu tử).

Theo Đông y, cửu thái vị cay, tính ôn; vào can, vị, thận. Cửu tử vị cay, tính ôn; vào can thận. Cửu thái có tác dụng ôn trung hành khí, kiện vị, tán ứ giải độc, bổ thận tráng dương. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực, nấc cục, nôn thổ, thổ huyết, niệu huyết, trĩ xuất huyết, bệnh tiểu đường, dị ứng nổi ban, liệt dương, di tinh. Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ chữa ho trẻ em, hen suyễn, giun kim, lỵ amíp, tiêu hóa kém. Hạt hẹ (cửu tử) có tác dụng bổ thận tráng dương ích tinh. Dùng cho các trường hợp liệt dương di tinh, di niệu, đau lưng do lạnh, đau mỏi lạnh chân, huyết trắng đới hạ.

Hẹ được dùng làm thuốc trong các trường hợp:
+ Nam giới thận hư, di mộng tinh, phụ nữ bạch đới: hạt hẹ ngâm giấm, rang khô, tán bột; dùng mật ong làm hoàn, viên bằng hạt đậu. Ngày uống 3 - 5g, uống vào lúc đói với rượu nóng.

+ Rượu bổ dùng cho nam giới: hạt hẹ 40g, tằm đực khô 200g, dâm dương hoắc 120g, câu kỷ tử 40g, kim anh tử 100g, ngưu tất 60g, ba kích 100g, thục địa 80g, sơn thù 60g, mật ong 800ml, rượu 400 4 lít. Ngâm 20 - 30 ngày. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Tăng cường hoạt động sinh dục.

- Rau hẹ, hồ đào xào dầu vừng: rau hẹ 240g, hồ đào nhân 60g. Xào với dầu vừng, ngày ăn 1 lần, dùng trong 1 tháng. Dùng cho người đau lưng liệt dương.

- Cháo lá hẹ: lá hẹ tươi 60g, gạo tẻ 100g. Nấu cháo gạo, khi cháo được, cho hẹ vào, thêm muối vừa ăn. Dùng cho bệnh nhân đau bụng tiêu chảy, liệt dương di tinh.

- Cháo hạt hẹ: hạt hẹ 200g, gạo lứt 300g. Tất cả nấu cháo, lọc gạn lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng cho bệnh nhân mệt mỏi suy nhược, di tinh, di niệu.              
Kiêng kỵ: Sốt nóng viêm nhiễm lở ngứa, đau mắt đỏ đều không dùng.

Theo: Đời sống&Sức khỏe

Chế độ ăn uống giúp giảm nguy cơ ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp thứ hai sau ung thư da ở phụ nữ Mỹ. Dù hiểu biết, có ý thức phòng bệnh, chúng ta không thể loại trừ một số yếu tố gây bệnh, chẳng hạn như di truyền.

Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì nguyên nhân di truyền chỉ chiếm 25% trong việc góp phần tăng nguy cơ mắc bệnh. Nhưng việc thay đổi  thói quen ăn uống mỗi ngày có thể giúp giảm bớt những nguy cơ trên. Dưới đây là một số cách khá đơn giản giúp ta giảm nguy cơ mắc bệnh này cũng như tăng cường sức khỏe cho tim.

1. Một ít thức uống có cồn

Theo tiến sĩ Laurence Kolonel, Giám đốc chương trình Dịch tễ học tại Trung tâm nghiên cứu ung thư của Hawaii, hầu hết những nghiên cứu liên quan đến khẩu phần ăn và phòng bệnh ung thư vú trước đây đều chưa đi đến một thống nhất chung nào. Tuy nhiên, một trong những kết quả thống nhất hiếm hoi đó là vai trò của các loại nước uống có cồn. Đối với ung thư vú thì dù chỉ một lượng nhỏ cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, nhưng chúng lại rất tốt cho tim. Theo thống kê thì phụ nữ chết vì bệnh tim nhiều hơn ung thư. Vì vậy, cần cân nhắc trước khi uống bia, rượu, vì nếu không uống thì sẽ không cung cấp những tác dụng có ích bổ sung cho tim. Tuy nhiên, nếu gia đình có tiền sử về ung thư vú thì tốt nhất là nên tránh uống bia, rượu.

2. Vận động nhiều

Nghiên cứu mới đây trên tạp chí y khoa The Cancer Journal cho thấy, một trong những cách quan trọng nhất giúp giảm nguy cơ ung thư vú là tránh bị tăng cân. Nghĩa là cần kết hợp bữa ăn dinh dưỡng với việc luyện tập thể dục nhiều. Nghiên cứu cũng gợi ý rằng, những người thừa cân nếu có thể giảm vài kg trước tuổi 45 sẽ giúp giảm nguy cơ bị bệnh này sau khi mãn kinh. Nghiên cứu trên 100.000 phụ nữ cho thấy, những người tập thể dục thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh này thấp hơn nhiều so với những người không tập. Ngoài ra, tập thể dục cũng giúp giảm lượng hóc môn có liên quan đến việc bị ung thư vú.

3. Hấp thu vừa phải chất béo

The women’s intervention nutrition study, là một thử nghiệm lâm sàng chuyên đề trên những phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn đầu, đã phát hiện những người có khẩu phần ăn ít béo có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh trở lại. Sau một năm, những người này đã giảm được gần 2,5kg trong khi những người trong nhóm không áp dụng chế độ ăn ít béo lại tăng 0,5 kg. Do tăng cân là một trong những nguyên nhân làm bệnh xuất hiện trở lại và làm giảm tỉ lệ sinh tồn, nên việc giảm cân có tác dụng tốt nhất mà khẩu phần ít béo mang lại. Hạn chế việc hấp thụ chất béo để giảm cân là một cách chống ung thư rất hiệu quả.

4. Ăn các thực phẩm từ đậu nành

Và không ăn thêm loại bổ sung (như vitamin). Ở những nước như Trung Quốc hay Nhật Bản, người ta ăn nhiều loại thực phẩm chế biến từ đậu nành nên tỉ lệ ung thư vú ở đây rất thấp so với những nơi khác trên thế giới. Phân tích từ 18 cuộc nghiên cứu cho thấy, ăn các thực phẩm làm từ đậu nành sẽ giúp giảm phần nào nguy cơ bị ung thư vú. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Kolonel thì không nên ăn các loại thực phẩm chức năng bổ sung chất đậu nành. Lượng estrogen (hóc môn kích tố sinh dục) thực vật cao có trong thực phẩm này làm thay đổi các tế bào vú và có thể dẫn đến ung thư. Vì vậy, những người đã từng mắc bệnh này hoặc có nguy cơ bị bệnh này nên tránh ăn những thực phẩm chức năng bổ sung đậu nành.

5. Rau củ và trái cây

Tiến sĩ Kolonel cho biết, tuy rau củ và trái cây không giúp chống lại ung thư nhưng khẩu phần ăn có nhiều loại thực phẩm này sẽ giúp giảm calo, duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh. Chuyên gia dinh dưỡng Cheryl Rock, người phối hợp thực hiện nghiên cứu Lối sống và khẩu phần khỏe mạnh cho phụ nữ của Đại học California, San Diego (Mỹ), cho biết những phụ nữ ăn ít nhất 5 phần rau quả và trái cây kết hợp với việc đi bộ 30 phút hàng ngày sẽ giúp giảm 50% nguy cơ tử vong từ bệnh ung thư vú. Bà còn nói rằng, nếu không thể giảm cân, nhưng ăn nhiều rau quả và trái cây kết hợp tập thể dục cũng giúp giảm nguy cơ bị ung thư trở lại.

Theo: Phụ Nữ

4 sai lầm về thói quen vệ sinh

Mỗi lần đi vệ sinh nhẹ xong, nhiều chị em có thói quen dùng vòi xịt rồi mới dùng giấy vệ sinh. Tuy nhiên, cách làm này lại có hại hơn là có lợi.

1. Thường xuyên rửa ráy “cô nhỏ”

Rất nhiều người có thói quen rửa cô nhỏ thường xuyên. Thực tế đây là một cách làm rất không khoa học vì việc này không chỉ phá vỡ môi trường kiềm axit bình thường ở trong âm đạo mà còn làm cho vi khuẩn có lợi “ trôi” đi mất, tăng thêm nguy cơ viêm nhiễm âm đạo và cũng rất sai lầm.

2. Dùng dung dịch vệ sinh thay nước máy
Có rất nhiều loại nước vệ sinh có tác dụng bảo vệ “cô nhỏ” nhưng cũng diệt luôn “vi khuẩn bảo vệ cô nhỏ” và có thể gây dị ứng. Vậy nên cách bảo vệ cô nhỏ tốt nhất là dùng nước sạch vệ sinh hằng ngày vì da ở ngoài vùng xung quanh cô nhỏ rất mềm, rất dễ bị dị ứng.

3. Thường xuyên dùng băng vệ sinh hàng ngày
Rất nhiều phụ nữ dùng băng vệ sinh hàng ngày để khỏi phải giặt quần lót nhiều. Cách làm này chỉ tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Băng vệ sinh hàng ngày cho dù có tính thoáng khí tốt như thế nào chăng nữa thì cũng không thể bằng quần lót chất cotton. Vậy nên thay và giặt quần lót hàng ngày, đồng thời phơi quần lót ở chỗ thông thoáng, khô ráo và có ánh mặt trời mới là tốt nhất.

4. “Yêu” xong mới vệ sinh
Đa phần chị em đều vệ sinh vùng kín ngay sau khi quan hệ tình dục. Tuy nhiên, vệ sinh trước khi yêu mới thực sự giúp giảm bớt sự lây nhiễm của vi sinh vật, giảm bớt viêm nhiễm và các bệnh về đường sinh dục.


Theo Sina/Dân trí

Cái "ngàn vàng": Vá được nhưng…

Có một câu hỏi vẫn thường được các bạn gái trẻ chưa lập gia đình đặt ra trong các lần tư vấn sức khoẻ, đó là màng trinh đã rách rồi, liệu có cách nào phục hồi lại như cũ không?

Đây cũng là yêu cầu mà các bác sĩ phụ khoa hay ngoại khoa rất hay gặp.

“Chuộc lại cái ngàn vàng” thường là nhu cầu của một số bạn gái do vấn đề tai nạn trong sinh hoạt làm tổn thương màng trinh, hay một số bạn gái khác do đi quá quan hệ bình thường trong tình yêu, cũng có khi thật sự là một toan tính nhằm qua mắt những quý ông “ham của lạ”. Ngoài ra, cũng có một số bà vợ sau nhiều lần sinh con, “vùng chiến thuật” tan hoang, giờ muốn tạo cảm giác hứng thú cho đức ông chồng, để giữ chân không ra ngoài “mèo mả, gà đồng”, nên cũng muốn phục hồi màng trinh như thuở ban đầu.

Ngàn vàng cũng có nhiều loại

Có thể xem màng trinh như bức rèm cửa che bớt đường vào của đường sinh dục nữ. Bức màn này vốn là một màng thịt, và vì là rèm nên màng trinh không che hoàn toàn lối vào của đường sinh dục. Thực tế, trên những phụ nữ chưa từng có quan hệ tình dục, lỗ màng trinh có thể đút lọt vừa ngón tay, tạo điều kiện cho dịch đường sinh dục cũng như máu kinh nguyệt có thể thoát ra dễ dàng.Thậm chí, khi những phụ nữ này có các bệnh lý viêm nhiễm đường sinh dục cần điều trị tại chỗ bằng thuốc đặt âm đạo, vẫn có thể sử dụng được, có điều phải dùng các dạng viên thuốc nhỏ và có sự trợ giúp của nhân viên y tế có chuyên môn.

Có một dạng bất thường bẩm sinh về đường sinh dục, trong đó màng trinh là một màng hoàn toàn, che khuất hẳn lối vào đường sinh dục (gọi là chứng bít màng trinh). Khi đó, các bé gái vẫn phát triển bình thường nhưng khi vào tuổi hành kinh, máu kinh sẽ ứ đọng lại trong đường sinh dục. Khối ứ đọng ngày càng gia tăng và tạo cảm giác căng đau, thậm chí thành khối ở vùng bụng dưới, cần tiến hành rạch một lỗ thoát trên màng trinh.

Một số trường hợp bít màng trinh còn đi kèm dị dạng của đường sinh dục, như âm đạo không có hay phát triển kém, không có tử cung… Hình dạng màng trinh cũng có nhiều dạng, như dạng màng, dạng lưỡi liềm, chiếc lá, dạng sàng… Tuy nhiên, dù dạng nào thì đây vẫn là vùng khá nhạy cảm, có nhiều mạch máu nuôi và dây thần kinh, nên sẽ chảy máu và đau khi bị tổn thương.

“Nỗi oan thị kính” trong đêm tân hôn

Trong lần quan hệ tình dục đầu tiên, khi dương vật người nam đưa vào đường sinh dục người nữ, màng trinh sẽ rách và gây chảy máu, lượng máu này ít hay nhiều tuỳ theo mức độ rách của màng trinh. Có những trường hợp chảy máu rất nhiều cần phải nhập viện do đứt mạch máu ngay tại nơi rách màng trinh và không tự cầm được. Cũng như, có những lần quan hệ không phải lần đầu tiên, nhưng do tư thế hay cường độ quan hệ không phù hợp (có khi là quan hệ tình dục có sử dụng dụng cụ hỗ trợ), dẫn đến tình trạng rách thêm bên trong đường sinh dục (âm đạo) và gây chảy máu vùng sinh dục rất nghiêm trọng.

Cũng vì bản chất là màng thịt, co giãn được, nên ở một số phụ nữ trong lần quan hệ đầu tiên có thể không có việc rách màng trinh gây chảy máu. “Giọt máu đêm tân hôn” không xuất hiện dù người phụ nữ đó thật sự còn trinh trắng.
Nhiều ông chồng vì chuyện này đã hoài nghi vợ mình đem cho ai đó cái ngàn vàng trước khi dâng hiến cho mình. “Nỗi oan thị kính” này thực không biết tỏ cùng ai, nhất là khi các đức ông chồng thiếu hiểu biết và thông cảm. Ngược lại, cũng có lúc màng trinh thuộc loại quá dày, gây cản trở cho lần quan hệ đầu tiên và đôi khi phải cần sự can thiệp của thầy thuốc để giúp “đường thông, hè thoáng”.

Chuộc lại được nhưng luật pháp cấm

Vì là màng thịt nên khi rách, màng trinh có thể vá lại được. Tuy nhiên, nếu màng trinh đã rách lâu hay rách nhiều (có quan hệ nhiều lần, đã lâu, đã mang thai, sinh con…), việc vá lại sẽ không phục hồi hoàn toàn hình dạng ban đầu, cũng như độ nhạy cảm thần kinh của một màng trinh tân trang không tốt như màng trinh nguyên sơ. Hơn nữa, mức độ nhạy cảm hay phản xạ của người phụ nữ có quan hệ tình dục lần đầu vẫn có nhiều điểm khác biệt so với người đã từng có quan hệ trước đó. Thủ thuật vá màng trinh cũng khá đơn giản.

Sau phẫu thuật, nếu người “đòi” kiểm tra có trình độ về phụ khoa non kém, thiếu kinh nghiệm sống, sẽ rất khó để phân biệt màng trinh đã được tân trang hay là màng trinh nguyên vẹn thật sự. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, vá màng trinh không được xem là hoạt động hợp pháp của những người làm phụ khoa hay ngoại khoa nói chung. Còn như tìm đến những nơi làm chui, trái phép để thoả mãn nhu cầu của mình thì nguy cơ xấu cho sức khoẻ sẽ rất cao.

Suy cho cùng, trong tình yêu trai gái hay quan hệ vợ chồng, nếu cả hai đều có thái độ tôn trọng nhau, trân trọng những giá trị tinh thần, sự chia sẻ và cảm thông, hơn là quan hệ xác thịt thì nhu cầu tân trang cái ngàn vàng sẽ không còn chỗ để tồn tại.


Theo ThS.BS Đặng Lê Dung Hạnh - Sài Gòn tiếp thị